Khu tiếp dân và trụ sở công an phường

Khu tiếp dân và trụ sở công an phường: một tòa nhà, hai gương mặt

Viết cho chỉ huy đơn vị, ban quản lý dự án và đơn vị tư vấn thiết kế đang lập hồ sơ cho trụ sở công an xã, phường, đặc khu và các trụ sở có bộ phận tiếp công dân.

Với phần lớn người dân, trụ sở công an phường là nơi họ gặp lực lượng công an nhiều nhất trong đời. Họ đến để làm thủ tục, để trình báo, để hỏi một việc mà họ không biết hỏi ai. Ấn tượng về cả ngành được hình thành ở sảnh tiếp dân: chờ bao lâu, có được gọi đúng lượt không, có phải nói to chuyện riêng của mình trước mặt người lạ không.

Cùng tòa nhà đó lại là một đơn vị nghiệp vụ. Có phòng trực ban hai mươi bốn giờ, có khu làm việc nghiệp vụ, có phòng làm việc với người bị tạm giữ, có kho, có lực lượng phải tập hợp trong vài phút khi có lệnh. Hai gương mặt này cần hai tiêu chuẩn ngược nhau: mặt trước phải mở, thân thiện, dễ tiếp cận; mặt sau phải kín, có kiểm soát, có bằng chứng. Thiết kế công nghệ cho trụ sở phường là thiết kế đường ranh giới giữa hai gương mặt đó.

Loại công trình này có năm bài toán. Mỗi bài toán dưới đây gồm thách thức thường gặp, cách chúng tôi giải, và kết quả đo được khi nghiệm thu.

1. Sảnh tiếp dân: chờ có trật tự, nói chuyện riêng không phải nói to

Thách thức. Sảnh trần cao, mặt kính lớn, sàn đá. Loa gọi số vang khắp sảnh nhưng không ai nghe rõ số nào. Người dân đứng vây quanh quầy để khỏi lỡ lượt. Quầy có vách kính, cán bộ và người dân phải nói to qua khe hở, và người đứng phía sau nghe hết câu chuyện về hộ khẩu, về tranh chấp, về một việc mà họ không muốn ai biết. Người cao tuổi, người khiếm thính gần như không theo kịp.

Cách giải. Hệ xếp hàng gọi số chia theo loại thủ tục, có màn hình hiển thị số đang được phục vụ ở từng quầy, và có thể cho người dân đặt lượt trước. Loa gọi số không phải hai loa công suất lớn ở hai góc sảnh, mà là nhiều loa nhỏ phân bố đều, kết hợp xử lý âm học cho trần và mặt tường lớn để lời gọi nghe ra chữ. Tại quầy có vách kính, hệ đàm thoại qua vách gồm micro và loa nhỏ hai phía để hai bên nói ở giọng bình thường. Khu quầy có âm nền chủ động để câu chuyện ở quầy này không nghe rõ ở quầy bên cạnh. Một số quầy có vòng nghe từ trường theo IEC 60118-4 cho người dùng máy trợ thính, có biển báo rõ. Lối vào, quầy thấp cho người ngồi xe lăn và lối đi tiếp cận tham chiếu ISO 21542 về khả năng tiếp cận của công trình.

Kết quả đo khi nghiệm thu.

  • Chỉ số truyền đạt lời nói STI của loa gọi số đo theo IEC 60268-16 tại các vị trí ngồi chờ, khi sảnh có tiếng ồn nền mô phỏng giờ đông người.
  • Thử hội thoại ở giọng bình thường tại một quầy, xác nhận người đứng ở quầy bên cạnh và ở hàng ghế chờ không nghe hiểu được nội dung.
  • Đo cường độ từ trường của vòng nghe tại vị trí người dùng theo IEC 60118-4.
  • Hệ xếp hàng xuất được báo cáo thời gian chờ và thời gian phục vụ theo từng loại thủ tục.

Xem thêm: quản lý hàng đợi, màn hình, bảng tin số và truyền hình nội bộ, âm học và kiểm soát tiếng ồn, giải pháp âm thanh định hướng.

2. Đường ranh giới giữa mặt trước và mặt sau

Thách thức. Trụ sở được thiết kế như một tòa nhà văn phòng: một sảnh chính, một cầu thang chung, các phòng xếp dọc hành lang. Công dân đến trình báo có thể đi thẳng lên tầng nghiệp vụ. Người bị tạm giữ được đưa qua đúng sảnh mà người dân đang ngồi chờ. Cửa khu nghiệp vụ dùng khóa cơ, ai có chìa thì vào.

Cách giải. Mặt bằng được chia thành ba vùng ngay từ thiết kế cơ sở: vùng công dân, vùng làm việc nội bộ, vùng nghiệp vụ và giam giữ. Mỗi vùng có lối đi riêng, và lối đưa người bị tạm giữ vào khu nghiệp vụ không giao cắt với vùng công dân. Cửa chuyển vùng dùng kiểm soát ra vào phân quyền theo chức vụ và ca trực, có nhật ký. Khách đến liên hệ công tác được đăng ký, cấp thẻ tạm, và hệ thống tự thu quyền khi họ ra về. Camera bám theo ranh giới: cổng, sảnh, cửa chuyển vùng, lối đưa người bị tạm giữ, kho. Ít điểm hơn rải đều, nhưng mỗi lần qua ranh giới đều có hình ảnh đối chiếu.

Kết quả đo khi nghiệm thu.

  • Đi thử từng luồng: công dân, cán bộ, khách công tác, người bị tạm giữ; xác nhận mỗi luồng chỉ tới được vùng của mình.
  • Thử thẻ của từng nhóm quyền tại từng cửa chuyển vùng, đối chiếu nhật ký ra vào với hình ảnh camera tại cửa.
  • Thử thu hồi một thẻ khách, xác nhận thẻ không còn mở được cửa nào.

Xem thêm: an ninh vật lý tích hợp, giải pháp an toàn và an ninh.

3. Mỗi lượt tiếp dân để lại dấu vết tra cứu được

Thách thức. Một người dân khiếu nại rằng tuần trước họ được hướng dẫn sai tại quầy số ba. Đơn vị muốn kiểm tra lại, nhưng không biết người đó đến lúc mấy giờ. Đầu ghi camera sảnh lệch giờ so với máy tính tại quầy. Tìm đúng đoạn ghi hình mất cả buổi, hoặc không tìm được.

Cách giải. Hệ xếp hàng, camera quầy và máy tính quầy cùng lấy giờ từ một nguồn thời gian chung. Mỗi số thứ tự ghi lại thời điểm được gọi, quầy phục vụ và thời điểm kết thúc. Khi cần tra lại một lượt tiếp dân, chỉ cần số thứ tự hoặc ngày giờ là ra đúng đoạn ghi hình của đúng quầy. Việc ghi hình tại quầy thực hiện theo quy định của đơn vị và có thông báo cho công dân. Thiết bị đánh giá mức độ hài lòng đặt tại quầy, kết quả gắn với lượt phục vụ, cho chỉ huy đơn vị một số liệu thật thay vì cảm nhận.

Kết quả đo khi nghiệm thu.

  • Chọn ngẫu nhiên một số thứ tự đã phục vụ, tra ra đúng đoạn ghi hình tại đúng quầy trong thời gian nêu trong hồ sơ.
  • Đối chiếu mốc thời gian của hệ xếp hàng, camera và máy tính quầy cho cùng một lượt phục vụ.
  • Xuất báo cáo đánh giá mức độ hài lòng theo quầy và theo loại thủ tục.

Xem thêm: hạ tầng mạng AV, điều khiển và an ninh mạng.

4. Trực chiến hai mươi bốn giờ

Thách thức. Phòng trực ban là một bàn làm việc với một màn hình camera, một điện thoại bàn và một bộ đàm. Khi cần tập hợp lực lượng ngoài giờ, cán bộ trực gọi điện từng người. Khi có sự việc ngay tại trụ sở, không có cách thông báo cho từng khu vực trong tòa nhà ngoài việc đi bộ tới.

Cách giải. Phòng trực ban của trụ sở phường là một trung tâm chỉ huy thu nhỏ. Màn hình camera chia theo nhiệm vụ, sự kiện báo động hiện kèm hình ảnh liên quan. Phát thanh nội bộ trụ sở chia vùng, điều khiển ngay tại bàn trực, có bản tin dựng sẵn cho tập hợp lực lượng, sơ tán và phong tỏa. Lệnh phong tỏa và lệnh sơ tán có hai kịch bản riêng, không phát chung bằng chuông báo cháy, vì tín hiệu cháy sẽ đè lên lệnh giữ người ở lại và đẩy người ra chỗ nguy hiểm. Liên lạc với tổ tuần tra và các chốt trên địa bàn đưa về cùng bàn trực. Phòng trực ban có nguồn lưu điện, có điều hòa riêng, ánh sáng không phản chiếu lên màn hình.

Kết quả đo khi nghiệm thu.

  • Phát thử bản tin tập hợp lực lượng, đo thời gian từ lúc chọn kịch bản tới lúc bản tin phát ra tại các vùng.
  • Thử lệnh phong tỏa trong lúc có tín hiệu báo cháy giả lập, xác nhận hai hệ ứng xử theo đúng quy tắc ưu tiên đã thống nhất.
  • Cắt điện lưới, xác nhận phòng trực ban, camera và phát thanh tiếp tục hoạt động trong thời gian lưu điện yêu cầu.

Xem thêm: an toàn sinh mạng: thông báo, sơ tán, cảnh báo, hệ thống phát thanh công cộng và cảnh báo giọng nói, phòng điều hành và trung tâm chỉ huy.

5. Nhiều trụ sở cùng lúc: một bộ cấu hình chuẩn

Thách thức. Trụ sở công an phường thường được đầu tư theo đợt, nhiều trụ sở cùng một lúc, mỗi gói thầu một nhà thầu. Ba năm sau, mỗi trụ sở chạy một hệ thống khác nhau, giao ban trực tuyến với cấp trên mỗi nơi một chất lượng, phụ tùng không dùng chung được, và đội kỹ thuật của cấp trên phải học hàng chục cấu hình.

Cách giải. Trước khi mời thầu đợt đầu, đơn vị chủ quản chốt một bộ cấu hình chuẩn cho trụ sở phường: sảnh tiếp dân, phòng trực ban, phòng họp giao ban, hội trường, khu nghiệp vụ. Bộ cấu hình gồm danh mục chủng loại theo điều kiện kỹ thuật, sơ đồ đấu nối, sơ đồ bố trí và bộ cài đặt. Bộ chuẩn được dựng và nghiệm thu trên một trụ sở mẫu, rồi mới nhân bản. Phòng họp giao ban của mọi trụ sở dùng cùng một cấu hình điểm cầu, nên chất lượng giao ban trực tuyến với cấp trên đồng đều. Hội trường của trụ sở thường dùng cho cả họp dân và tuyên truyền, nên có cấu hình dựng sẵn cho các chế độ dùng nhiều nhất. Thiết bị ở mọi trụ sở có thể được giám sát trạng thái từ một điểm, khi đơn vị cho phép.

Kết quả đo khi nghiệm thu.

  • Bộ cấu hình chuẩn bàn giao thành văn bản kèm bản sao cấu hình của từng thiết bị, áp dụng cho mọi gói thầu của đợt đầu tư.
  • Trụ sở mẫu được nghiệm thu đầy đủ các phép thử trong bài này trước khi các trụ sở còn lại thi công.
  • Thử giao ban trực tuyến giữa trụ sở mẫu và điểm cầu cấp trên: không tiếng vọng, hình và tiếng đồng bộ.

Xem thêm: hội nghị truyền hình và cộng tác, hội nghị và không gian họp, giám sát và quản lý từ xa hạ tầng công nghệ thông tin, dịch vụ AV chăm sóc chủ động.

Nguồn điện, phân vùng mạng, đồng bộ thời gian và khả năng tự vận hành của đơn vị sau bàn giao được trình bày chi tiết trong bài nền móng cho hệ thống công nghệ của cơ quan nhà nước.

Ba điều nên chốt ngay trên bản vẽ

Một, mặt bằng ba vùng và bốn luồng người. Công dân, cán bộ, khách công tác, người bị tạm giữ. Mỗi luồng có lối đi riêng, và chỗ các luồng gặp nhau là chỗ đặt cửa có kiểm soát. Đây là quyết định của kiến trúc sư, không sửa được bằng thiết bị.

Hai, âm học sảnh tiếp dân và vị trí quầy. Trần cao, kính lớn, đá lát là ba thứ làm sảnh vang. Vật liệu tiêu âm cho trần, vị trí loa gọi số, khoảng cách giữa các quầy và ống chờ cho hệ đàm thoại qua vách chốt cùng kiến trúc sư trước khi hoàn thiện.

Ba, bộ cấu hình chuẩn trước gói thầu đầu tiên. Khi nhiều trụ sở được xây cùng đợt, đây là quyết định rẻ nhất và có tác động lâu dài nhất: một lần chốt, áp dụng cho mọi trụ sở trong nhiều năm.

Cách chúng tôi làm việc

Bá Hùng làm việc ở vai kiến trúc sư giải pháp: tư vấn phương án, cung cấp thiết bị, tích hợp kỹ thuật, bảo hành bảo trì dài hạn và ứng phó sự cố. Với công trình thuộc khối Quân đội, Công an và An ninh, chúng tôi không công bố thông tin công trình, không nêu tên đơn vị và không đưa hình ảnh hiện trường ra bên ngoài. Quy trình quản lý chất lượng của công ty duy trì chứng nhận ISO 9001 liên tục từ năm 2011.

Nếu đợt đầu tư của quý đơn vị còn đang ở bản vẽ, đó là thời điểm rẻ nhất để chốt bộ cấu hình chuẩn. Gửi bản vẽ cho kiến trúc sư giải pháp của Bá Hùng.

Các giải pháp khác cho khối này: Quân đội và An ninh. Nhóm công trình có khu tiếp dân tương tự: cơ quan chính phủ.