Phòng xét xử và ba cấp cấu hình chuẩn: một bộ thiết kế cho hàng trăm phòng

Phòng xét xử là nơi duy nhất trong tòa án mà mọi hệ thống phải chạy cùng lúc, trước mặt mọi người, và không được làm lại. Micro, camera, màn hình trình chiếu, đường nối với trại tạm giam, bộ ghi đa kênh, nút báo động dưới bàn thư ký. Một hạng mục trục trặc là cả phiên tòa phải dừng chờ.

Khó hơn nữa, ngành tòa án không xây một phòng xử. Ngành xây hàng trăm phòng, ở nhiều địa phương, qua nhiều đợt mua sắm. Một phòng xử được thiết kế tốt mà không nhân bản được thì chỉ là một phòng mẫu đẹp. Mọi phòng xử đều phải giải cùng năm bài toán. Mỗi bài toán có một cách giải và một con số đo được khi nghiệm thu; gom các lời giải lại thì được ba cấp cấu hình chuẩn để nhân bản cho cả mạng lưới.

Bài toán thứ nhất: mỗi người nói phải nằm trên một kênh riêng

Thách thức. Trong một phiên xử, người nói ngồi ở bảy tám vị trí cố định cách xa nhau: hội đồng xét xử, thư ký, kiểm sát viên, người bào chữa, bục khai báo, khu bị cáo, khu người tham gia tố tụng. Người khai thường nói nhỏ, giọng run, quay mặt về phía hội đồng chứ không về phía micro. Có lúc hai ba người cùng nói. Phòng xử theo kiến trúc truyền thống lại dùng gỗ ốp, đá, trần cao, làm tiếng vang kéo dài.

Cách giải. Micro bố trí theo sơ đồ tố tụng, mỗi vị trí một micro và một kênh ghi riêng, cộng thêm một kênh tổng của cả phòng. Khi nghe lại, người dùng tắt bớt các kênh khác để nghe riêng lời một người, hoặc phân biệt được ai nói câu nào trong đoạn chen ngang. Chủ tọa có quyền ưu tiên tắt mọi micro khác bằng lệnh phần cứng. Bộ xử lý âm thanh tự cân mức giữa người nói to và người nói nhỏ, và kỹ thuật chống hú đa tầng giữ cho hệ thống có biên an toàn rộng, để không ai phải cúi sát micro mới được nghe.

Với phòng đủ lớn, trần đủ cao và âm học đã xử lý, micro có thể thu tốt ở khoảng cách tới 160cm. Đó là trần kỹ thuật, không phải con số áp cho mọi phòng. Ở phòng xử thông thường, khoảng cách micro bình thường cộng biên chống hú rộng đã đủ để người khai nói giọng tự nhiên.

Micro tốt không cứu được một căn phòng vang. Thời gian hồi âm của phòng xử được quyết định bởi vật liệu trần, tường, sàn, và nên chốt cùng kiến trúc sư ở giai đoạn thiết kế cơ sở theo mục tiêu dành cho phòng nói của DIN 18041. Gỗ ốp vẫn dùng được, miễn sau tấm gỗ có lớp hút âm và bề mặt có khe hoặc lỗ đúng tính toán. Xem âm học và kiểm soát tiếng ồn và vật liệu, giải pháp âm học cho công trình.

Đo khi nghiệm thu. Thời gian hồi âm của phòng đã hoàn thiện so với mục tiêu thiết kế. Chỉ số truyền đạt lời nói STI theo IEC 60268-16 tại vị trí hội đồng và tại khu người dự. Thử nói ở bục khai báo rồi nghe riêng kênh bục khai báo trong bản ghi: lời phải rõ, và tiếng của các vị trí khác trên kênh đó phải thấp hẳn. Thử hai người cùng nói để kiểm tra bản ghi vẫn tách được hai giọng.

Bài toán thứ hai: người xem bản ghi phải thấy được người đang khai

Thách thức. Hội đồng đánh giá lời khai không chỉ bằng nội dung mà còn bằng thái độ, cử chỉ của người khai. Ở phiên xử trực tuyến, hội đồng ở đầu cầu bên này nhìn người khai qua màn hình. Ở phiên phúc thẩm, hội đồng mới xem lại bản ghi hình. Một camera an ninh gắn trên góc trần cho hình toàn cảnh từ trên xuống thì đủ để biết ai ngồi đâu, nhưng không đủ để nhìn một khuôn mặt.

Cách giải. Phòng xử dùng camera hội nghị có điều khiển quay, nghiêng, thu phóng, với các góc đặt sẵn cho từng vị trí tố tụng. Khi micro ở vị trí nào bật lên, camera tự chuyển sang góc đặt sẵn của vị trí đó. Thêm một camera toàn cảnh cố định để bản ghi luôn có hình cả phòng, kể cả khi camera chính đang chuyển góc.

Ánh sáng là nửa còn lại của bài toán hình ảnh. Mặt người khai cần đủ sáng theo phương đứng, không bị ngược sáng từ cửa sổ phía sau, không có bóng đổ từ đèn rọi thẳng trên đầu, và không chói đến mức người đứng ở bục phải nheo mắt. Đèn phải không nhấp nháy trên hình quay, nên chọn nguồn đèn và bộ nguồn đèn đạt yêu cầu về nhấp nháy theo IEEE 1789 và có chỉ số hoàn màu cho camera tốt. Xem ánh sáng sân khấu và chiếu sáng thông minh.

Đo khi nghiệm thu. Thời gian từ lúc micro bật tới lúc camera dừng đúng góc. Độ rọi theo phương đứng tại mặt người ở bục khai báo và ở bàn hội đồng. Quay thử ở chế độ ghi thật rồi xem lại để chắc không có vệt nhấp nháy, không có vùng mặt bị cháy sáng hay chìm tối.

Bài toán thứ ba: chứng cứ lên màn hình đúng lúc, đúng người xem

Thách thức. Người bào chữa mang laptop có ảnh hiện trường. Kiểm sát viên cần trình một trang tài liệu giấy. Có những hình ảnh hội đồng cần xem mà người dự trong phòng không nên thấy, hoặc chưa nên thấy. Nếu mọi nguồn cắm vào là lên thẳng màn hình chung, chủ tọa mất quyền kiểm soát nội dung trong chính phòng xử của mình.

Cách giải. Mỗi bàn tố tụng có cổng trình chiếu riêng, chỉ nhận tín hiệu hình và không mở đường vào mạng của tòa. Nguồn cắm vào trước hết hiện trên màn hình của chủ tọa. Chủ tọa xem, rồi mới nhấn chia sẻ ra màn hình hội đồng, màn hình khu người dự, hoặc ra đầu cầu trực tuyến, từng nơi riêng biệt. Máy chiếu vật thể đặt ở vị trí dùng chung để trình tài liệu giấy và vật chứng nhỏ. Nguồn đang trình chiếu cũng được ghi vào bản ghi, để sau này biết lúc nào hội đồng đang xem tài liệu gì. Xem hình ảnh, LED và AV qua IP và màn hình.

Đo khi nghiệm thu. Thời gian từ lúc cắm laptop tới lúc hình hiện trên màn hình chủ tọa. Thử với một nguồn chưa được duyệt: nó không được xuất hiện trên màn hình người dự, trên luồng trực tuyến hay trên bản ghi phát ra ngoài. Thử rút cáp giữa chừng để chắc hệ thống không treo.

Bài toán thứ tư: phiên tòa nối với một đầu cầu ở nơi khác

Thách thức. Bị cáo khai từ trại tạm giam, người làm chứng tham gia từ một địa phương khác, có khi cần phiên dịch. Âm thanh hai chiều phải liên tục: khi chủ tọa ngắt lời, người ở đầu cầu bên kia phải nghe được ngay, không bị tắt tiếng vì hệ thống chỉ cho một chiều nói tại một thời điểm. Và khi đường truyền chập chờn giữa lời khai, phiên tòa phải biết rõ đoạn nào đã nghe được, đoạn nào chưa.

Cách giải. Phòng xử được đấu sẵn cho phiên trực tuyến ngay từ thiết kế: thiết bị hội nghị truyền hình nối thẳng vào hệ âm thanh và hệ camera của phòng, có khử tiếng vọng để hai bên nói chen được, có bố cục màn hình đặt sẵn để hội đồng thấy cùng lúc người khai và tài liệu. Kênh phiên dịch chạy riêng song song, tách khỏi kênh phòng. Đường truyền đi trên hạ tầng mạng thiết kế riêng cho nghe nhìn, có tuyến dự phòng, và bản ghi lưu cả tiếng, hình nhận được từ đầu cầu xa đúng như hội đồng đã nghe, đã thấy.

Đo khi nghiệm thu. Độ trễ một chiều của tiếng, đối chiếu khuyến nghị ITU-T G.114 cho hội thoại. Thử hai bên cùng nói và chủ tọa ngắt lời để kiểm tra tiếng không bị cắt. Rút đường truyền chính để đo thời gian hai đầu cầu nghe lại được nhau, và xem bản ghi có đánh dấu đúng khoảng gián đoạn hay không.

Bài toán thứ năm: người vận hành là thư ký, không phải kỹ sư

Thách thức. Thư ký phiên tòa vừa ghi biên bản, vừa theo dõi diễn biến, vừa lo thiết bị. Họ được điều chuyển giữa các phòng, giữa các trụ sở. Một giao diện điều khiển có hai chục nút với tên kỹ thuật sẽ chỉ được dùng ba nút, và khi có gì lạ thì không ai dám bấm.

Cách giải. Mọi thao tác thường dùng gom vào vài phím rõ nghĩa trên một màn hình cảm ứng: bắt đầu phiên, tạm dừng, nối đầu cầu, kết thúc. Quyền cho phép ghi hình đặt ở vị trí chủ tọa. Đèn báo đang ghi lắp ở chỗ cả phòng nhìn thấy. Phần cấu hình phức tạp khóa lại ở lớp quản trị, người dùng không chạm tới. Mỗi sáng, phòng tự kiểm tra micro, loa, camera, đường ghi, đường truyền, rồi báo trạng thái về hệ giám sát từ xa trước khi phiên đầu tiên mở.

Đo khi nghiệm thu. Một thư ký chưa từng dùng hệ thống, sau một buổi hướng dẫn, tự mở được một phiên xử có nối đầu cầu và trình chiếu chứng cứ. Đếm số thao tác từ lúc bước vào phòng tới lúc phiên bắt đầu ghi. Tắt nguồn một micro trước giờ làm việc để xem hệ giám sát có báo đúng micro đó không.

Ba cấp cấu hình chuẩn

Năm bài toán trên có mặt ở mọi phòng xử, từ phòng nhỏ xử một vụ dân sự tới phòng lớn xử một vụ án đông người dự. Chỗ khác nhau là quy mô, không phải cách làm. Vì vậy chúng tôi gom lời giải thành ba cấp, cấp trên bằng cấp dưới cộng thêm khối, lõi giữ nguyên. Thư ký quen phòng cấp nào cũng dùng được phòng cấp khác, phụ tùng thay được chéo, và nâng một phòng lên cấp trên là cộng thiết bị chứ không phải đập đi làm lại.

  • Phòng xử cơ bản. Micro theo từng vị trí tố tụng, ghi đa kênh cộng kênh tổng, camera hội nghị theo góc đặt sẵn và một camera toàn cảnh, màn hình trình chiếu có chủ tọa duyệt, máy chiếu vật thể, giao diện điều khiển vài phím, đấu sẵn để nối một đầu cầu trực tuyến khi cần.
  • Phòng xử tiêu chuẩn. Thêm màn hình riêng cho từng khu (hội đồng, người bào chữa, bục khai báo, người dự), phiên tòa trực tuyến là chế độ thường trực, kênh phiên dịch, vòng nghe từ trường cho khu người dự, chiếu sáng có điều khiển theo kịch bản phiên.
  • Phòng xử trọng điểm. Dành cho phòng lớn và vụ án đông người. Loa phân vùng cho khu người dự, nhiều đầu cầu cùng lúc, phát hình có kiểm soát sang phòng phụ hoặc màn hình hành lang cho người không vào được phòng, điểm lấy tín hiệu cho báo chí do tòa quản lý, phiên dịch nhiều ngôn ngữ.

Ba cấp dùng chung một sơ đồ đấu nối, một bộ giao diện và một phương án giám sát. Bộ cấu hình nên chốt trước đợt mua sắm đầu tiên, vì đợt đầu tiên quyết định mọi đợt sau. Phần lớp nền bên dưới, gồm nguồn, đường truyền, thời gian và lưu trữ bản ghi, được trình bày trong bài nền móng cho hệ thống công nghệ tòa án.

Ba điều nên chốt ngay trên bản vẽ

Hộp sàn, ống chờ và vị trí camera bám sơ đồ tố tụng. Mỗi bàn tố tụng, bục khai báo và khu bị cáo có hộp sàn chứa micro, cổng trình chiếu, nguồn và nút báo động. Vị trí camera chốt cùng mặt bằng nội thất để không bị cột, rèm hay vách che. Đặt sai thì dây chạy nổi trong một không gian cần trang nghiêm.

Âm học và chiếu sáng của phòng xử. Mục tiêu thời gian hồi âm, cấu tạo lớp ốp, độ rọi theo phương đứng tại mặt người khai và hướng cửa sổ. Hai thứ này quyết định chất lượng bản ghi trước khi có thiết bị nào được mua.

Tủ kỹ thuật và tuyến cáp cho từng cụm phòng xử. Vị trí tủ đặt gần các phòng để đường cáp ngắn, có làm mát và nguồn riêng, không đặt trong phòng xử để tiếng quạt không vào bản ghi. Tuyến cáp từ tủ tới phòng kỹ thuật trung tâm đi riêng khỏi máng cáp động lực.

Bá Hùng tham gia ở đâu

Chúng tôi đứng ở năm vai: tư vấn kiến trúc giải pháp từ giai đoạn bản vẽ, cung cấp thiết bị từ các đối tác trực tiếp tại G7, Anh và châu Âu, thi công tích hợp, bảo hành bảo trì dài hạn và ứng cứu nhanh theo kịch bản dựng sẵn. Với phòng xét xử, chúng tôi bàn giao kèm bộ cấu hình chuẩn theo cấp phòng để các đợt mua sắm sau dùng lại, và giữ nguyên tắc mỗi điều kiện kỹ thuật có tối thiểu ba nhà sản xuất trên thế giới đáp ứng được. Nền tảng thiết bị của lớp này nằm ở hệ thống hội thảo, biểu quyết và phiên dịch và hội nghị và không gian họp.

Xem toàn bộ bức tranh của một trụ sở tòa án ở bài tổng quan công nghệ cho công trình tòa án. Nếu trụ sở của quý cơ quan còn ở bản vẽ, gửi mặt bằng phòng xử cho kiến trúc sư giải pháp của Bá Hùng qua trang Liên hệ để nhận đề xuất cấp cấu hình phù hợp và bộ điều kiện kỹ thuật đưa được thẳng vào thuyết minh thiết kế.