Ghi âm ghi hình đa kênh và chuỗi bảo quản bản ghi: khi bản ghi trở thành một phần của hồ sơ vụ án

Một phiên tòa kéo dài vài giờ. Bản ghi của nó có thể phải sống nhiều năm, đi qua tay thư ký, thẩm phán, kiểm sát viên, người bào chữa, rồi được mở lại ở một phiên xử khác. Mỗi lần mở, câu hỏi luôn giống nhau: đây có đúng là những gì đã diễn ra trong phòng xử không, có ai chạm vào nó không, và đoạn cần nghe nằm ở đâu.

Từ khi việc ghi âm, ghi hình diễn biến phiên tòa trở thành việc của chính tòa án, hệ thống ghi không còn được đánh giá như một tiện ích của phòng xử. Nó được đánh giá như một quy trình tạo ra và giữ gìn tài liệu. Năm bài toán dưới đây đi theo đúng đường đi của bản ghi: từ lúc âm thanh chạm vào micro, qua lúc phiên tòa kết thúc, tới ngày bản ghi được trích ra để dùng.

Bài toán thứ nhất: bản ghi phải là những gì hội đồng đã nghe và đã thấy

Thách thức. Hội đồng xét xử nghe tiếng của cả phòng, nhìn người đang khai, nhìn tài liệu đang trình chiếu, và ở phiên trực tuyến thì nghe, nhìn cả đầu cầu bên kia. Một bản ghi chỉ có kênh tiếng tổng và một hình toàn cảnh thì đã đánh mất phần lớn những gì hội đồng dựa vào để đánh giá.

Cách giải. Cấu trúc bản ghi được thiết kế cùng lúc với sơ đồ micro của phòng xét xử. Mỗi micro một kênh tiếng riêng, cộng một kênh tổng đúng như loa trong phòng phát ra. Hình gồm camera chính bám người nói, camera toàn cảnh cố định và nguồn đang trình chiếu. Ở phiên trực tuyến, tiếng và hình nhận về từ đầu cầu xa được ghi đúng như hội đồng đã nhận, kể cả lúc chất lượng kém, vì đó cũng là sự thật của phiên tòa. Kênh phiên dịch ghi riêng để phân biệt được lời gốc và lời dịch.

Các kênh tiếng riêng nên được ghi trước lớp xử lý mạnh như khử ồn hay nén động, còn kênh tổng là bản đã qua xử lý để nghe dễ. Khi có tranh luận về một câu nói, người ta còn kênh gốc để nghe lại mà không bị lớp xử lý làm mất âm tiết.

Đo khi nghiệm thu. Kiểm tra từng kênh tiếng trong bản ghi đúng với từng vị trí micro. Đo độ lệch giữa tiếng và hình, đối chiếu ngưỡng nhận biết của khuyến nghị ITU-R BT.1359. Chuyển nguồn trình chiếu giữa chừng và kiểm tra bản ghi lưu đúng thời điểm chuyển.

Bài toán thứ hai: bản ghi không được đứt giữa phiên

Thách thức. Một bộ ghi treo, một đường mạng tới máy chủ bị gián đoạn, một lần mất nguồn ngắn. Mỗi sự cố như vậy có thể để lại một khoảng trống đúng vào đoạn lời khai quan trọng nhất, và khoảng trống trong bản ghi là thứ rất khó giải thích sau này.

Cách giải. Ghi song song ở hai nơi: một bộ ghi đặt tại cụm phòng xử và một bản đẩy về máy chủ lưu trữ trung tâm. Khi đường mạng tới máy chủ đứt, bộ ghi tại chỗ vẫn ghi tiếp rồi tự đồng bộ khi mạng trở lại. File được chia thành từng đoạn ngắn liên tiếp, để một lần mất nguồn không làm hỏng cả phiên mà chỉ ảnh hưởng tới đoạn đang ghi dở. Bộ ghi nằm sau lớp lưu điện và lọc nguồn đã trình bày trong bài nền móng cho hệ thống công nghệ tòa án. Đèn báo đang ghi đặt ở chỗ chủ tọa và thư ký luôn nhìn thấy, và khi việc ghi dừng ngoài ý muốn, cảnh báo hiện ngay trên màn hình điều khiển.

Đo khi nghiệm thu. Rút đường mạng tới máy chủ trong lúc đang ghi, rồi cắm lại: bản ghi trên máy chủ phải liền mạch. Cắt nguồn bộ ghi tại chỗ đột ngột: phần đã ghi trước đó phải mở được. Đo thời gian từ lúc việc ghi dừng tới lúc cảnh báo hiện lên.

Bài toán thứ ba: chuỗi bảo quản từ lúc kết thúc phiên

Thách thức. Khi phiên tòa kết thúc, bản ghi bắt đầu một đời sống khác. Nó được chuyển vào kho lưu trữ, được thư ký xem lại để hoàn thiện biên bản, được trích một đoạn gửi cho bên liên quan, được sao ra cho một phiên phúc thẩm. Mỗi bước là một lần có người chạm vào. Nếu không ghi lại ai đã làm gì, lúc nào, thì đến khi có người nghi ngờ, tòa không có gì để chứng minh bản ghi vẫn nguyên vẹn.

Cách giải. Ngay khi phiên kết thúc, file được đóng và hệ thống tạo dấu kiểm tra toàn vẹn cho từng file, lưu tách riêng khỏi file. Từ đó, mọi thao tác xem, nghe, trích xuất, sao chép đều đi qua một lớp phân quyền theo vai trò và để lại nhật ký: ai, lúc nào, lấy đoạn nào, đưa đi đâu. Nhật ký này người thao tác không xóa được, kể cả người có quyền quản trị thiết bị. Một đoạn trích ra mang dấu kiểm tra riêng của nó và ghi rõ được trích từ file gốc nào, từ giây thứ bao nhiêu tới giây thứ bao nhiêu. Bản gốc không bao giờ bị sửa; mọi xử lý đều làm trên bản sao.

Cách làm này đi theo các nguyên tắc nhận dạng, thu thập và bảo quản chứng cứ số của ISO/IEC 27037. Lớp kỹ thuật bên dưới thuộc nhóm hạ tầng mạng AV, điều khiển và an ninh mạng: mạng chia vùng để một thiết bị ở khu công cộng bị chiếm quyền cũng không với tới được máy chủ lưu trữ, và dữ liệu phiên tòa xử lý, lưu trữ tại chỗ, không đi qua dịch vụ đám mây công cộng.

Đo khi nghiệm thu. Sửa thử một byte trong một bản sao của file ghi, hệ thống phải báo sai lệch khi kiểm tra. Đăng nhập bằng tài khoản không có quyền và thử trích một đoạn, thao tác phải bị chặn và để lại dấu vết trong nhật ký. Dùng tài khoản quản trị thử xóa một dòng nhật ký, thao tác phải không thực hiện được.

Bài toán thứ tư: biên bản phiên tòa và tìm đúng đoạn cần nghe

Thách thức. Thư ký vừa theo dõi phiên xử vừa ghi biên bản bằng tay hoặc bằng bàn phím. Sau phiên, việc đối chiếu biên bản với bản ghi dài vài giờ tốn rất nhiều thời gian. Khi một bên cần nghe lại một câu, người ta thường phải tua tìm từ đầu.

Cách giải. Bản ghi đa kênh mở ra một lợi thế mà bản ghi một kênh không có: vì mỗi vị trí tố tụng có kênh riêng, hệ thống biết đoạn nào là của chủ tọa, đoạn nào là của người khai, mà không phải đoán theo giọng. Lớp nhận dạng giọng nói chạy tại chỗ chuyển lời nói thành văn bản, gắn mốc giờ cho từng câu và gắn vai tố tụng theo kênh micro. Thư ký dùng bản này để hoàn thiện biên bản nhanh hơn, và người xem bản ghi gõ một cụm từ là nhảy thẳng tới đoạn có câu đó.

Cần nói rõ giới hạn. Văn bản do máy nhận dạng là bản hỗ trợ. Biên bản phiên tòa vẫn do thư ký lập và chịu trách nhiệm. Giọng vùng miền, người nói nhỏ, thuật ngữ pháp lý và lúc nhiều người nói chen vẫn là chỗ máy nhận dạng dễ sai, nên hệ thống cần được thử trên chính bản ghi mẫu của tòa trước khi chốt.

Đo khi nghiệm thu. Chạy nhận dạng trên một bản ghi phiên xử thử có đủ các vị trí tố tụng và các giọng vùng miền thường gặp tại địa phương, rồi đếm tỷ lệ lỗi từ so với bản chép tay đối chiếu. Kiểm tra mỗi câu được gắn đúng vai tố tụng. Thử tìm một cụm từ và đo thời gian tới đúng đoạn.

Bài toán thứ năm: khi bản ghi đã lỡ kém chất lượng

Thách thức. Không phải bản ghi nào cũng được tạo ra trong một phòng xử có thiết kế tốt. Có bản ghi từ một phòng cũ vang, từ một điểm cầu có tiếng quạt, từ một buổi lấy lời khai ở ngoài trụ sở. Có những câu quan trọng bị tiếng ồn nền đè lên tới mức nghe không ra.

Cách giải. Còn một lớp xử lý: công nghệ phục hồi tiếng nói chuyên dùng trong ngành pháp y, tách lời nói khỏi tiếng ồn nền, giảm tiếng vang, làm rõ những âm tiết bị chìm mà không làm biến dạng giọng người nói. Nguyên tắc không đổi: bản gốc giữ nguyên, bản đã xử lý là một bản sao mới, kèm nhật ký ghi lại từng bước xử lý đã áp dụng để người khác có thể lặp lại và kiểm chứng. Lớp này cũng đang được dùng cho phòng hỏi cung và ghi lời khai của khối an ninh. Chúng tôi trình diễn trực tiếp trên tệp thử do tòa cung cấp trong buổi làm việc, thay cho mô tả trên giấy.

Đo khi nghiệm thu. Nghe so sánh bản gốc và bản xử lý trên cùng một đoạn. Kiểm tra nhật ký xử lý đủ để một người khác lặp lại và ra cùng kết quả. Kiểm tra bản gốc sau khi xử lý vẫn trùng dấu kiểm tra toàn vẹn ban đầu.

Ba điều nên chốt ngay trên bản vẽ

Cấu trúc kênh ghi chốt cùng sơ đồ micro. Bao nhiêu kênh tiếng, bao nhiêu luồng hình, kênh phiên dịch, kênh đầu cầu xa. Con số này quyết định dung lượng lưu trữ, cấu hình bộ ghi và cả cách tính khái toán, nên phải có trước khi lập dự toán.

Vị trí bộ ghi và hai nơi lưu trữ. Bộ ghi tại cụm phòng xử, máy chủ lưu trữ trung tâm, nơi lưu thứ hai ở vị trí vật lý khác, và tuyến cáp riêng nối các điểm đó. Ba vị trí này cần nguồn ưu tiên, làm mát và kiểm soát ra vào.

Quy trình chuỗi bảo quản đưa vào hồ sơ mời thầu. Dấu kiểm tra toàn vẹn cho từng file, phân quyền theo vai trò, nhật ký không xóa được, định dạng xuất có tài liệu công khai, cách trích một đoạn kèm nguồn gốc. Thiếu những điều kiện này trong hồ sơ thầu, nhà thầu nào cũng có thể chào một bộ ghi rẻ mà không ai so sánh được.

Bá Hùng tham gia ở đâu

Phần mềm quản lý vụ án và quy định lưu trữ thuộc về ngành tòa án. Phần của chúng tôi là lớp nằm bên dưới: micro, camera, xử lý tín hiệu, bộ ghi, mạng, nguồn và tích hợp, để dòng tiếng và hình đi vào phần mềm của ngành đúng chất lượng, đúng cấu trúc kênh, đúng giờ, và giữ được tính nguyên vẹn suốt vòng đời. Chúng tôi đứng ở năm vai: tư vấn kiến trúc giải pháp, cung cấp thiết bị từ các đối tác trực tiếp tại G7, Anh và châu Âu, thi công tích hợp, bảo hành bảo trì dài hạn với giám sát từ xa, và ứng cứu nhanh theo kịch bản dựng sẵn.

Xem bức tranh chung của một trụ sở tòa án ở bài tổng quan các giải pháp cho tòa án. Nếu quý cơ quan muốn thử lớp nhận dạng giọng nói hoặc lớp phục hồi tiếng nói trên bản ghi thật của mình, gửi yêu cầu qua trang Liên hệ để chúng tôi sắp xếp buổi trình diễn.