Tuyệt kỹ Chống Hú Đa Tầng

Định luật bình phương nghịch đảo trong phòng họp lớn, và vì sao 160 cm là một ngưỡng kỹ thuật có cơ sở chứ không phải con số quảng cáo.

Một phiên họp, một tư thế ngồi

Hội trường trần cao. Người chủ trì ngả lưng vào ghế, không cúi về phía micro, mắt nhìn thẳng các thành viên ở đầu bên kia bàn. Giọng ông vẫn tới được mọi chỗ ngồi, rõ và đủ, không một tiếng rít, kể cả lúc kỹ thuật viên phải nâng âm lượng cho dãy ghế cuối nghe kịp.

Với người chủ trì, đó là chuyện tự nhiên. Với người làm âm thanh, đó là kết quả của một bài toán vật lý giải từ trên bản vẽ âm học, rồi hiệu chỉnh thêm nhiều ngày ngoài hiện trường. Bá Hùng gọi cách giải bài toán ấy là Tuyệt Kỹ Chống Hú Đa Tầng.

Bài này giải thích vì sao một số phòng họp làm được điều đó, vì sao phần lớn phòng họp không làm được, và vì sao 160 cm có cơ sở vật lý rõ ràng. Phần tại sao được trình bày đầy đủ. Phần làm thế nào thì Bá Hùng giữ lại, và chứng minh bằng kết quả ở cuối bài.

Định luật bình phương nghịch đảo nói gì với phòng họp

Trong trường tự do, cường độ âm tại một điểm tỉ lệ nghịch với bình phương khoảng cách tới nguồn. Đổi ra ngôn ngữ của người làm nghề: mỗi lần khoảng cách từ miệng người nói tới micro tăng gấp đôi, mức âm tới micro giảm 6 dB. Áp suất âm còn một nửa, năng lượng chỉ còn một phần tư. (Tai người cảm nhận “nhỏ đi một nửa” ở mức giảm khoảng 10 dB, nên 6 dB nghe tưởng nhẹ, nhưng về năng lượng thì đã mất ba phần tư.)
Ở khoảng cách 20 cm, micro nhận tín hiệu mạnh, hệ thống không cần khuếch đại nhiều, loa không phát đủ lớn để âm thanh vòng ngược lại micro. Lùi ra 80 cm, mức âm tới micro giảm 12 dB. Muốn người nghe vẫn nghe như cũ, kỹ thuật viên phải nâng độ lợi thêm 12 dB, và tín hiệu ra loa cũng tăng ngần ấy. Lúc này âm thanh từ loa lọt lại micro, đi vòng một lần nữa qua hệ thống, và nếu độ lợi của vòng lặp ấy vượt ngưỡng thì cả phòng nghe một tiếng rít.
Tiếng hú vì vậy không phải sự cố ngẫu nhiên. Nó là dấu hiệu độ lợi của hệ thống đã chạm giới hạn vật lý của căn phòng.
Người thiết kế hệ thống hội nghị nào cũng phải tính trước một thông số: khoảng cách thu khả thi, tức khoảng cách xa nhất từ miệng tới micro mà hệ thống vẫn ổn định, không hú, không cần người ngồi canh bàn trộn.

Vì sao phần lớn phòng họp dừng dưới 80 cm

Trên thực tế lắp đặt, phần lớn hệ micro cổ ngỗng trên bàn họp được tính cho người nói ở khoảng vài chục xen-ti-mét. Các cấu hình tốt, đặt trong phòng có âm học ổn và được hiệu chỉnh kỹ, thường dừng quanh 60 tới 80 cm. Đây là điểm cân bằng mà thị trường thiết bị chấp nhận giữa sự thoải mái của người nói và độ ổn định của hệ thống.

Hệ quả là người dùng phải nhớ một quy tắc: nói thì cúi về phía micro. Cúi chưa đủ thì micro thu không rõ. Cúi quá thì mất tư thế người chủ trì. Phiên họp càng dài, càng đông, sự bất tiện ấy càng tích lại. Nếu phiên họp được truyền hình hoặc ghi hình làm tư liệu, hình ảnh người chủ trì liên tục cúi xuống micro sẽ nằm trong hồ sơ lưu trữ nhiều năm.

Tình huống nặng hơn đến vào những hôm điều kiện không lý tưởng, mà phòng họp nào dùng lâu cũng gặp. Người phát biểu nói nhỏ. Mưa ngoài cửa sổ làm tiếng ồn nền tăng thêm vài dB. Máy lạnh chạy hết công suất. Hoặc đơn giản là phòng đông hơn dự kiến. Với một hệ có biên độ hẹp, kỹ thuật viên đã phải đẩy độ lợi gần sát ngưỡng hú ngay từ đầu để bù cho khoảng cách thu ngắn, nên không còn chỗ để bù tiếp. Người ngồi cuối phòng nghe không rõ, và cách duy nhất còn lại là người phát biểu tự bù bằng cơ thể: cúi sát hơn, hoặc lên giọng cao hơn giọng tự nhiên của mình.

Không thể trách nhà sản xuất thiết bị. Họ thiết kế cho cách dùng mà thị trường mặc định. Khi thị trường mặc định người nói sẽ cúi xuống, sản phẩm được tối ưu cho khoảng cách cúi, không phải khoảng cách ngả lưng.

Phòng họp cấp cao ở Việt Nam lại có một yêu cầu khác. Người chủ trì cần ngồi thẳng, mắt nhìn các thành viên, trong khi micro vẫn thu rõ trong mọi điều kiện của một phiên họp thật. Ở tư thế ngả lưng vào ghế, khoảng cách từ miệng tới micro đặt trên bàn dễ vượt một mét. Vượt qua mốc 80 cm là điều kiện cần. Vượt qua mà vẫn còn dư biên độ để hấp thụ giọng nhỏ và tiếng ồn nền mới là điều kiện đủ.

160 cm: con số từ đâu ra

Bá Hùng đã đo và ghi hình khoảng cách thu 160 cm, ổn định, không hú, không hụt tiếng, tại các phòng họp đã đưa vào sử dụng. Người nói ngồi sâu vào ghế, lưng tựa hẳn ra sau, vẫn được thu trọn.

Cần nói rõ ngay: 160 cm là trần kỹ thuật, không phải cấu hình mặc định cho mọi phòng. Muốn chạm tới nó cần hội trường đủ lớn, trần cao và phần xử lý âm học làm đúng. Phòng họp tiêu chuẩn không cần đi tới đó, nhưng được hưởng một khoảng an toàn rộng hơn hẳn trước tiếng hú.

Đặt con số này vào định luật bình phương nghịch đảo thì thấy rõ độ khó. Từ 20 cm ra 160 cm, khoảng cách tăng tám lần. Theo công thức 20·log₁₀(160/20), mức âm tới micro giảm 18 dB. Muốn bù 18 dB, hệ thống phải bù lượng năng lượng gấp 64 lần. Nếu chỉ vặn độ lợi lên, tín hiệu ra loa cũng tăng tương ứng và vòng hồi tiếp gần như chắc chắn kích hoạt.

Chừng đó năng lượng không lấy lại được bằng cách tăng âm lượng, bằng một micro đắt hơn, một bộ xử lý mạnh hơn hay một thuật toán đơn lẻ nào. Nó chỉ lấy lại được khi nhiều tầng xử lý cùng làm việc trong một kiến trúc dựng riêng cho từng căn phòng.

Kiến trúc, không phải một món thiết bị

Tuyệt Kỹ Chống Hú Đa Tầng không phải một thiết bị, một thuật toán hay một thao tác tinh chỉnh. Đó là một kiến trúc tích hợp trong đó nhiều tầng xử lý chạy đồng thời để nới rộng khoảng cách giữa độ lợi dùng được và ngưỡng hú. Đứng sau kiến trúc ấy là đội ngũ đã làm qua rất nhiều căn phòng có âm học khác nhau, hiểu điểm mạnh riêng của từng dòng thiết bị trong tay, và biết tầng nào phải nhường tầng nào trong từng hoàn cảnh.
Khoảng cách thu xa không chỉ phục vụ phong thái người chủ trì. Tín hiệu sạch ở đầu vào còn quyết định chất lượng của mọi thứ phía sau: bản ghi âm lưu trữ, bản bóc băng tự động, đường tiếng gửi tới các điểm cầu từ xa. Những ứng dụng này được trình bày trong chuyên mục Hệ thống hội nghị, biểu quyết và phiên dịch.

Vì sao Bá Hùng không công bố chi tiết

Câu hỏi tự nhiên tiếp theo là kiến trúc ấy gồm những tầng nào. Bá Hùng không công bố, và đây là quyết định có chủ đích.

Lý do đầu tiên rất thực tế. Nếu công bố chi tiết, chỉ sau ít tháng sẽ có những hồ sơ dự thầu khác ghi “công nghệ chống hú đa tầng” với năng lực thật kém hơn nhiều nhưng câu chữ y hệt. Khi đó chủ đầu tư mất luôn khả năng phân biệt các nhà thầu qua hồ sơ, và rủi ro dồn về phía người mua.

Lý do thứ hai: phần cốt lõi của kỹ thuật này không nằm trên giấy. Nó nằm ở kinh nghiệm hiệu chỉnh tích lại qua hơn hai mươi năm làm phòng họp, ở những tình huống bất thường đã gặp và đã xử lý. Mô tả cách làm cũng không truyền được phần đó, chỉ tạo thêm người nói giống mà làm không giống.

Lý do thứ ba nằm ở phía người ra quyết định. Lãnh đạo một cơ quan, một ngân hàng hay một bệnh viện không phải kỹ sư âm thanh. Câu hỏi đúng ở cấp của họ là kết quả thực tế ra sao, ai đã dùng và có hài lòng không, quyết định này kéo theo rủi ro gì. Buộc họ đọc hiểu kỹ thuật chi tiết để chấm nhà thầu là làm khó họ không cần thiết.

Vì vậy cam kết của Bá Hùng với chủ đầu tư rất đơn giản: anh chị không cần biết chúng tôi làm thế nào. Anh chị chỉ cần nghe, thấy và tự kiểm tra kết quả. Phần kỹ thuật là trách nhiệm của Bá Hùng.

Ba cấp độ chứng minh

Thay cho mô tả cách làm, Bá Hùng đưa ra ba cấp độ chứng minh, tương ứng với mức quan tâm và giai đoạn ra quyết định của chủ đầu tư.

Cấp một: video thử nghiệm tại công trình thật. Mỗi video quay liền một mạch, không cắt ghép, có thước đo khoảng cách trong khung hình, người thử là người thật. Bối cảnh là phòng họp đang được sử dụng, không phải phòng mẫu dựng riêng để quay. Video được chia sẻ trong buổi tư vấn đầu tiên.

Cấp hai: tham quan phòng họp đang vận hành. Với chủ đầu tư muốn kiểm chứng sâu hơn, Bá Hùng thu xếp tham quan tại một số công trình đã bàn giao. Việc này cần sự đồng ý của đơn vị đang sử dụng công trình, nên Bá Hùng chuẩn bị hồ sơ giới thiệu, xin phép và sắp lịch phù hợp cho cả hai bên. Tại đó, đoàn có thể hỏi trực tiếp người đang vận hành phòng họp về trải nghiệm thực tế qua nhiều năm, và quan trọng nhất là tự thử khoảng cách thu bằng chính giọng của mình.

Cấp ba: thử nghiệm ngay tại công trình mới. Với các dự án trọng yếu nhất, sau khi đã xem video, đã tham quan và đã ký biên bản ghi nhớ, Bá Hùng tổ chức thử nghiệm trực tiếp trong không gian sắp triển khai. Chủ đầu tư đo được kết quả trong đúng điều kiện vật lý của phòng mình, và số đo đó có thể trở thành tiêu chí nghiệm thu ghi thẳng vào hợp đồng.

Ba cấp này minh bạch về kết quả, không mô tả phương pháp. Bí quyết được giữ lại, còn kết quả thì ai cũng kiểm tra được.

Quay lại chiếc ghế

Người chủ trì ngồi xuống, ngả lưng, bắt đầu phát biểu khai mạc. Khoảng cách từ miệng ông tới micro hơn một mét. Các thành viên quanh bàn lắng nghe, những người dự ngồi phía sau ghi chép, máy quay ghi trọn phiên họp để lưu trữ.

Ông không biết định luật bình phương nghịch đảo đã được tính vào cách bố trí micro, không biết căn phòng đã được đo và hiệu chỉnh nhiều ngày trước phiên họp, không biết hệ thống được lập trình riêng cho hội trường này. Ông không cần biết.

Trong bản ghi hình phiên họp ấy, không có khoảnh khắc nào ông phải cúi xuống.

Đọc thêm trong cùng chuyên mục:

Bá Hùng Technology · Nhà kiến trúc giải pháp công nghệ · Thành lập 2003