Vòng Đời 10 Năm

Viết cho giám đốc tài chính, trưởng phòng mua sắm và người chịu trách nhiệm cuối cùng về tổng chi phí sở hữu của hệ thống nghe nhìn trong một tổ chức.

Một phép tính minh họa

Hai phòng họp cùng quy mô, cùng yêu cầu chức năng, được đầu tư cùng năm cho hai chi nhánh của một tổ chức. Các con số dưới đây là số tròn để minh họa, không lấy từ một công trình cụ thể nào.

Phòng A. Vốn đầu tư ban đầu 8,5 tỷ đồng. Sau năm năm, chi phí vận hành cộng dồn khoảng 1,2 tỷ đồng. Hệ thống vẫn chạy ổn định, đã có lộ trình bảo trì cho năm thứ tám nằm trong ngân sách. Tổng chi sau năm năm: 9,7 tỷ đồng.

Phòng B. Vốn đầu tư ban đầu 7,2 tỷ đồng, rẻ hơn phòng A khoảng 15% vào ngày ký hợp đồng. Sau năm năm, chi phí vận hành cộng dồn khoảng 3,8 tỷ đồng, trong đó có một đợt nâng cấp một phần hệ thống ở năm thứ ba. Đợt nâng cấp thứ hai đang được chuẩn bị. Tổng chi sau năm năm: 11 tỷ đồng.

Vào ngày ký, phòng B rẻ hơn 1,3 tỷ đồng. Năm năm sau, phòng B đã tốn hơn phòng A 1,3 tỷ đồng, và khoảng cách vẫn đang nới rộng vì đợt nâng cấp kế tiếp chưa tính vào.

Hai phòng không khác nhau ở chất lượng thiết bị hay chất lượng thi công ngày đầu. Chúng khác nhau ở một điều: cấu trúc vận hành mười năm có được dựng ngay từ ngày ký hợp đồng hay không.

Có một câu hỏi ít giám đốc tài chính đặt ra khi duyệt vốn cho hệ thống nghe nhìn: quyết định này sẽ ràng buộc ngân sách vận hành của tôi đến năm nào? Câu trả lời thường là ít nhất mười năm.

Vì sao hệ thống nghe nhìn là cam kết mười năm

Trụ sở cơ quan, bệnh viện, trường đại học ở Việt Nam được xây để dùng ba bốn chục năm. Hệ thống nghe nhìn bên trong không sống lâu như vậy, nhưng cũng không chỉ ba năm. Một hệ thống được đầu tư đúng thường có tuổi thọ thực tế khoảng tám tới mười hai năm, tức khoảng cách giữa hai lần thay mới lớn.

Trong khoảng thời gian đó, hệ thống phục vụ liên tục hàng nghìn phiên họp, hội nghị, ca hội chẩn hay buổi giảng. Gần như không có ngày nào tắt hẳn để bảo trì sâu mà không ảnh hưởng tới lịch làm việc của tổ chức.

Với phần mềm, máy chủ và hạ tầng công nghệ thông tin, giám đốc tài chính đã quen với chuyện chi phí vận hành mười năm có thể vượt vốn đầu tư ban đầu, và đã có công cụ để tính. Với hệ thống nghe nhìn, quy luật ấy vẫn đúng nhưng ít được nói ra. Lý do nằm ở thị trường: sau khi nhà thầu lắp đặt rời đi, thị trường vận hành rất phân mảnh. Tổ chức hoặc tự vận hành và học từ đầu, hoặc gọi một đơn vị khác không có lịch sử công trình, hoặc chấp nhận hệ thống chạy dưới chuẩn cho tới lần thay mới.

 

Hai mô hình, hai cấu trúc chi phí

Lắp xong rồi rời đi

Bán thiết bị và lắp đặt một lần. Bảo hành một hai năm theo điều khoản. Sau đó, mọi vấn đề phát sinh là của tổ chức. Cần linh kiện thì tự đi tìm. Cần hiệu chỉnh thì gọi dịch vụ tính theo giờ. Nhà thầu thay người hoặc bỏ mảng này thì tổ chức mất luôn kênh hỗ trợ.

Mô hình này có giá ngày đầu hấp dẫn vì nhà thầu không phải tính chi phí vòng đời vào giá bán. Lợi nhuận của họ nằm trọn ở thương vụ đầu tiên. Với giám đốc tài chính, nó tối ưu vốn đầu tư nhưng để lại một rủi ro vận hành không đoán trước được: mỗi sự cố thành một lần mua sắm riêng, mỗi linh kiện thành một hồ sơ riêng, mỗi lần đổi người thành một vòng học lại.

Kiến trúc kèm vòng đời

Thiết kế hệ thống cùng với tài liệu vận hành đầy đủ, hồ sơ công trình được giữ liên tục, lộ trình bảo trì lập trước và nguồn linh kiện được tính từ ngày bàn giao tới năm thứ mười. Doanh thu của nhà thầu trải đều qua cả vòng đời, không dồn vào thương vụ đầu.

Giá ngày đầu của mô hình này thường cao hơn. Đổi lại, tổng chi phí qua mười năm thường thấp hơn rõ rệt, vì các khoản chi ẩn được kiểm soát bằng cấu trúc thay vì bằng phản ứng khi sự cố đã xảy ra. Mô hình này đòi một cách quản lý tài sản khác: từ mua một lần sang quản lý một tài sản dài hạn.

Mô hình thứ nhất không phải lúc nào cũng sai. Với phòng có vòng đời sử dụng ngắn, ba tới năm năm, không phục vụ chức năng trọng yếu, nó có thể là lựa chọn kinh tế hợp lý. Nhưng với cơ sở dùng lâu dài, phòng họp trọng yếu, hội trường có lịch sự kiện dày, hay bất cứ nơi nào mà một sự cố kéo theo chi phí uy tín, pháp lý hoặc an toàn, thì tổng chi phí mười năm mới là thước đo đúng.

 

Năm khoản chi ẩn ít khi được tính vào vốn đầu tư

Linh kiện thay thế đắt hơn dự kiến

Từ năm thứ ba tới năm thứ năm, linh kiện bắt đầu xuống cấp. Nếu nhà thầu ban đầu vẫn làm việc thẳng với hãng, linh kiện được đặt từ hãng với giá hợp lý và thời gian giao có cam kết. Nếu không, linh kiện phải tìm qua thị trường thứ cấp với giá cao hơn nhiều, thời gian giao không chắc, độ tương thích không ai bảo đảm. Khoản này không có trong báo giá ban đầu. Nó hiện ra từng đợt, qua nhiều năm.

Dịch vụ kỹ thuật không có hợp đồng

Hết bảo hành, mỗi sự cố là một lần gọi dịch vụ tính giờ: một chuyến khảo sát, một chuyến quay lại với linh kiện. Cộng dồn nhiều năm, khoản này có thể vượt giá trị một hợp đồng bảo trì có cấu trúc. Tệ hơn, không có hợp đồng thì không có cam kết thời gian phản hồi. Sự cố rơi đúng ngày có sự kiện lớn có thể phải chờ, vì kỹ sư đang ở công trình khác.

Đào tạo lại đội kỹ thuật

Đội kỹ thuật nội bộ thay người vài năm một lần. Nếu có hồ sơ công trình và tài liệu vận hành đầy đủ, việc bàn giao gọn nhẹ. Nếu không, mỗi lần đào tạo lại trở thành một dự án kéo dài nhiều tuần. Trong mười năm, chuyện này có thể lặp lại hai ba lần.

Thay nửa hệ thống vì kiến trúc không mở rộng được

Giữa vòng đời, cách làm việc của tổ chức thay đổi: họp kết hợp trực tiếp và trực tuyến thành mặc định, cần truyền hình trực tiếp, cần lưu trữ dữ liệu tại chỗ thay vì trên đám mây. Nếu kiến trúc ban đầu được thiết kế để mở rộng, phần lớn thay đổi xử lý được bằng tinh chỉnh và bổ sung. Nếu kiến trúc ban đầu chỉ là tập hợp thiết bị rời theo bảng khối lượng, mỗi thay đổi đều kéo theo thay một phần hoặc toàn bộ. Đó là một khoản vốn bổ sung không ai tính trong tổng chi phí ban đầu.

Cái giá của sự cố trong sự kiện trọng yếu

Khi sự cố xảy ra giữa phiên họp hội đồng quản trị, đại hội cổ đông, phiên họp cấp cao hay ca hội chẩn, chi phí kỹ thuật chỉ là phần nhỏ. Phần lớn là chi phí phi kỹ thuật: thời gian của lãnh đạo, uy tín của tổ chức, niềm tin của cổ đông, của cấp trên. Khoản này hiếm khi được tính vào tổng chi phí của hệ thống, nhưng nó có thật và có thể lớn hơn nhiều lần vốn đầu tư khi sự kiện đủ quan trọng. Cách tính được trình bày trong bài Kịch Bản Ứng Cứu.

Cấu trúc vòng đời dựng trên năm trụ

Một mô hình bảo trì mười năm muốn đứng được phải dựng trên năm trụ cụ thể, mỗi trụ kiểm tra được bằng hồ sơ.

Tài liệu vận hành đầy đủ. Lập từ giai đoạn thiết kế: kiến trúc tổng thể, sơ đồ tín hiệu, cấu hình xử lý tín hiệu, danh sách thiết bị kèm mã và số sê-ri, trình tự bật tắt, hướng dẫn xử lý lỗi cấp một, lịch bảo trì định kỳ. Cập nhật mỗi lần có thay đổi. Một phép thử nhanh: đề nghị nhà thầu cho xem tài liệu vận hành của một công trình đã bàn giao năm năm trước. Nhà thầu có cấu trúc vòng đời đưa ra được trong vài giờ.

Hồ sơ công trình không phụ thuộc một người. Mỗi công trình có người phụ trách chính, và lịch sử can thiệp được ghi lại để ai tiếp nhận cũng đọc được. Khi cần chỉnh sửa ở năm thứ ba, thứ năm, thứ bảy, quyết định gốc vẫn còn đó. Hệ thống quản lý chất lượng theo ISO 9001, Bá Hùng duy trì liên tục từ năm 2011, là khung để việc ghi chép này không bị bỏ dở.

Lộ trình thay linh kiện lập trước. Mỗi loại linh kiện có tuổi thọ ước tính riêng: pin, quạt làm mát, bóng chiếu, tụ nguồn. Lộ trình thay được lập từ ngày bàn giao chứ không chờ hỏng. Giám đốc tài chính dùng chính lộ trình này để dự trù khoản chi bổ sung cho từng năm trong mười năm.

Nguồn linh kiện đi thẳng từ hãng. Linh kiện được đặt từ hãng tại nước sản xuất qua quan hệ trực tiếp, không qua nhiều tầng trung gian. Trụ này nhà thầu không có quan hệ trực tiếp không dựng được, dù tài liệu tiếp thị có viết gì. Xem thêm trang Đối Tác Trực Tiếp G7/EU.

Kịch bản ứng cứu cho tình huống tới hạn. Khi sự cố xảy ra giữa sự kiện trọng yếu, không có thời gian chờ kỹ sư tới. Phải có kịch bản dựng trước, đội ngũ đã tập theo kịch bản, kênh liên lạc rút ngắn. Xem bài Kịch Bản Ứng Cứu.

Phần dịch vụ định kỳ đứng trên năm trụ này được mô tả ở trang Dịch vụ AV chăm sóc chủ động.

 

Ba câu hỏi để chuyển từ so vốn sang so tổng chi phí

So hai báo giá bằng dòng “tổng giá trị” là cần nhưng chưa đủ. Một báo giá rẻ hơn 15% vào ngày ký có thể đắt hơn đáng kể sau mười năm nếu không có cấu trúc vòng đời. Giám đốc tài chính có thể đặt thêm ba câu hỏi mà mẫu hồ sơ mời thầu chưa có.

Về cấu trúc vòng đời. “Năm trụ kể trên, gồm tài liệu vận hành, hồ sơ công trình, lộ trình thay linh kiện, nguồn linh kiện và kịch bản ứng cứu, được dựng tới đâu trong báo giá của anh?” Mỗi trụ cần bằng chứng cụ thể, không chỉ một dấu tích.

Về độ bền của nhà thầu. “Anh có cam kết duy trì mảng này trong mười năm tới không, bằng văn bản, với cơ cấu tổ chức nào đứng sau?” Nhà thầu nhỏ có thể cam kết nhưng thiếu bộ máy để thực hiện. Nhà thầu lớn có bộ máy nhưng chưa chắc gắn bó với mảng nghe nhìn.

Về cái giá của sự cố. “Nếu sự cố xảy ra trong phiên họp trọng yếu nhất của chúng tôi, chi phí phi kỹ thuật là bao nhiêu, và anh tính nó vào phương án thế nào?” Ít nhà thầu trả lời được. Nhà thầu có khái niệm này trong tài liệu của mình là dấu hiệu họ thật sự nghĩ theo vòng đời.

Lắp một lần, vận hành mười năm

Câu này đảo lại thứ tự ưu tiên quen thuộc. Thay vì chọn nhà thầu lắp rẻ nhất, hãy chọn cấu trúc vận hành mười năm tốt nhất. Nhà thầu được chọn vì có cấu trúc đó, không vì giá ngày đầu thấp.

Giám đốc tài chính ở những tổ chức quản lý tài sản bài bản đã áp dụng cách nghĩ này cho phần mềm doanh nghiệp, hạ tầng công nghệ thông tin, hệ thống quản lý tòa nhà từ lâu. Mảng nghe nhìn đi chậm hơn vì thị trường vẫn quen so giá ngày đầu. Khi nhà cung cấp trình bày bằng giá ngày đầu, người mua so bằng giá ngày đầu. Khi nhà cung cấp trình bày bằng tổng chi phí mười năm, người mua có thêm một thước đo đúng hơn.

Bá Hùng dựng cấu trúc vòng đời vì một lý do thực dụng: chỉ có cấu trúc đó mới phục vụ được những chủ đầu tư cần vận hành mười năm và cần kiểm tra được từng năm.

Đọc thêm trong cùng chuyên mục:

Bá Hùng Technology · Nhà kiến trúc giải pháp công nghệ · Thành lập 2003

Một câu duy nhất

Mô hình bảo trì có cấu trúc cho mười năm không phải khái niệm mới. Là tư duy mà CFO chuyên nghiệp đã áp dụng cho các hạng mục đầu tư công nghệ khác. Việc Pro AV chậm hơn trong việc áp dụng tư duy này không phải vấn đề kỹ thuật. Là vấn đề ngôn ngữ giao tiếp giữa nhà cung cấp và khách hàng.


Khi nhà cung cấp Pro AV trình bày bằng ngôn ngữ CAPEX, CFO so sánh bằng CAPEX. Khi nhà cung cấp Pro AV trình bày bằng ngôn ngữ TCO, CFO so sánh bằng TCO. Bản đồ này là một bước trong nỗ lực chuyển ngôn ngữ giao tiếp đó.


Để CFO có thể audit lời cam kết "vòng đời mười năm" của một nhà thầu, cần năm trụ cột cụ thể: tài liệu vận hành đầy đủ, đội bảo trì giữ lịch sử dự án, lộ trình thay thế linh kiện lập trước, cấu trúc cung ứng linh kiện trực tiếp với hãng, kịch bản ứng cứu dựng sẵn. Mỗi trụ cột audit được qua tài liệu cụ thể. Không có trụ cột nào dựng trên lời nói.


Một câu duy nhất, viết được trong năm từ:


Cấu trúc, không phải lời hứa.

CAPEX là một quyết định. TCO là nhiều quyết định trải dài 10 năm

 

Sai lầm phổ biến nhất trong đánh giá nhà cung cấp Pro AV ở Việt Nam là so sánh CAPEX của các báo giá mà bỏ qua TCO. Khi cấu trúc lifecycle khác biệt được xếp ngang hàng với cấu trúc lắp đặt một lần, CFO và procurement director vô tình chọn rủi ro 8 năm tiếp theo để tiết kiệm 10-25% CAPEX trong năm đầu.


Mô hình B không phải lúc nào cũng là lựa chọn đúng. Cho các dự án có vòng đời sử dụng thực tế ngắn (3 đến 5 năm), không phục vụ chức năng trọng yếu, mô hình A có thể phù hợp về kinh tế.

 

 Nhưng cho các cơ sở thiết chế dài hạn, các phòng họp trọng yếu, các hội trường có lịch kiện đáng kể, các dự án mà sự cố vận hành có chi phí phi tài chính lớn (uy tín, tuân thủ pháp lý, an toàn vận hành), TCO 10 năm là trục đánh giá đúng. CAPEX là input. TCO là kết quả.


Bá Hùng được thành lập để giải bài toán TCO, không phải bài toán CAPEX.

→ Quay lại Methodology   |   Liên quan: Đối Tác Trực Tiếp G7/EU   |   Đọc tiếp Kịch Bản Ứng Cứu

Bá Hùng Technology

· Nhà Kiến Trúc Giải Pháp Công Nghệ

· Thành lập 2003