Tổng quan công nghệ cho khách sạn và khu nghỉ dưỡng: ba vòng của một công trình lưu trú

Khi duyệt ngân sách cho một khách sạn, chủ đầu tư thường chi mạnh tay cho những gì khách nhìn thấy: sảnh, vật liệu, nội thất phòng, cảnh quan. Phần công nghệ hay bị để tới cuối, khi ngân sách đã mỏng và trần đã đóng. Rồi sau khai trương, những lời phàn nàn lại đến từ chính phần bị để sau: phòng nghe rõ tiếng máy bơm, nhạc ở nhà hàng lúc to lúc nhỏ, ballroom mất nửa ngày để đổi từ hội nghị sang tiệc cưới, thông báo khẩn chỉ phát bằng một thứ tiếng.

Thứ khách trả tiền là một đêm ngủ yên, một bữa tối dễ chịu, một sự kiện suôn sẻ, và cảm giác được an toàn mà không phải nghĩ tới nó. Vì vậy bài này không đi theo danh mục hệ thống. Bài đi theo ba vòng của công trình lưu trú, mỗi vòng ứng với một câu hỏi mà chủ đầu tư và đơn vị vận hành nên trả lời trước khi chốt thiết kế cơ sở.

Vòng trải nghiệm: nơi khách trả tiền cho cảm giác

Vòng này gồm sảnh, hành lang, phòng nghỉ, nhà hàng, quầy bar, spa, hồ bơi. Câu hỏi của vòng này là khách nghe thấy gì và cảm thấy gì ở từng nơi họ đi qua.

Sảnh là nơi khách hình thành ấn tượng trong vài phút đầu. Âm thanh nền ở đây nên chia vùng theo cách khách di chuyển. Quầy lễ tân cần đủ yên để nhân viên và khách nghe rõ nhau, còn sảnh chờ và quầy bar có thể sống động hơn. Ở quầy lễ tân, che tiếng ồn có kiểm soát giúp cuộc trò chuyện ở quầy bên cạnh khó nghe rõ hơn. Một hệ âm thanh thương mại đa vùng cho phép mỗi khu có nguồn nhạc, lịch phát và giới hạn âm lượng riêng, để nhân viên ca tối không vặn nhạc to hơn mức thương hiệu cho phép.

Phòng nghỉ thì ngược lại. Một đêm mất ngủ là chuyện khách hay nhắc lại khi viết đánh giá. Ngoài tiếng xe ngoài đường, kẻ phá giấc ngủ hay đến từ chính bên trong công trình: máy bơm, quạt, máy làm lạnh truyền rung qua kết cấu, tiếng ballroom ở tầng dưới, tiếng phòng bên cạnh. Vị trí đặt máy, cách treo đỡ chống rung và cách âm giữa các phòng do đơn vị cơ điện và tư vấn âm học công trình quyết. Bá Hùng tham gia ở khâu đặt mục tiêu tiếng ồn nền và cách âm trong hồ sơ thiết kế và đo kiểm khi nghiệm thu. Những mục tiêu này cần có trên bản vẽ, trước khi trần đóng.

Nhà hàng, bar và spa mỗi nơi có một nhịp riêng trong ngày. Nhà hàng buổi sáng cần nhẹ, buổi tối cần ấm, còn spa cần gần như yên lặng. Khi nhà thiết kế nội thất muốn không gian không lộ loa, vị trí và kiểu loa cần có mặt trong bản vẽ âm thanh theo thiết kế nội thất ngay từ đầu. Nhạc phát ở không gian kinh doanh cũng cần có quyền sử dụng thương mại theo quy định về quyền tác giả và quyền liên quan; tài khoản nghe nhạc cá nhân thường không cấp quyền này. Chủ đầu tư nên tính khoản này vào chi phí vận hành ngay từ đầu.

Không khí là phần thứ hai của cảm giác mà khách không gọi được tên. Phòng ngủ ngột ngạt, sảnh có mùi bếp, spa ẩm mốc đều được ghi vào đánh giá dưới dạng "không thoải mái". Đo, hiển thị và cảnh báo chất lượng không khí theo từng khu, phối hợp với hệ điều hoà thông gió, nằm trong giải pháp toà nhà thông minh, không khí và không gian. Phần này nên đặt cùng thiết kế cơ điện thay vì bổ sung sau.

Vòng sự kiện: nơi doanh thu ngoài tiền phòng được tạo ra

Với nhiều khách sạn thành phố và khu nghỉ dưỡng, ballroom và các phòng chức năng là nguồn doanh thu lớn ngoài tiền phòng, nhưng chỉ khi chúng đổi được cấu hình nhanh. Câu hỏi ở đây là một phòng đổi được bao nhiêu cấu hình trong một ngày, và mỗi lần đổi mất bao lâu. Buổi sáng là hội nghị, buổi chiều chia ba phòng hội thảo, buổi tối mở thông cho tiệc cưới. Mỗi giờ mất đi để kéo lại cáp, dò lại loa, chỉnh lại ánh sáng là một khung giờ không cho thuê được.

Ở vòng này, chúng tôi đề nghị chủ đầu tư làm theo một thứ tự: quyết cách chia phòng trước, chọn thiết bị sau. Vách ngăn di động chia ballroom thành bao nhiêu phần, mỗi phần cần âm thanh, hình ảnh, ánh sáng độc lập ra sao, khi gộp lại thì hệ thống tự ghép thế nào. Trả lời xong những câu này rồi mới chọn loa, chọn màn hình. Làm ngược lại, ballroom thường có đủ thiết bị nhưng chỉ chạy tốt ở một kiểu bố trí.

Ballroom còn phải nghe rõ lời nói. Bài phát biểu trong tiệc cưới, phần trình bày trong hội nghị, câu hỏi từ hàng ghế cuối đều cần nghe rõ từng chữ, ở cả cuối phòng. Mục tiêu độ rõ lời nói cho phòng dùng làm hội nghị nên được đặt trong hồ sơ thiết kế, đo theo chỉ số STI của IEC 60268-16:2020, cùng với yêu cầu về âm học của phòng. Thiết kế âm thanh chuyên nghiệp và hội nghị, không gian họp cho ballroom đi cùng nhau ở bước này.

Khách thuê sự kiện ngày càng cần nhiều hơn một dàn âm thanh: màn LED và hình ảnh cho sân khấu, ánh sáng sân khấu đổi theo từng phần chương trình, truyền trực tuyến cho người ở xa, ghi hình để dùng lại. Đơn vị tổ chức sự kiện cũng thường mang ê kíp và thiết bị riêng. Ballroom vì thế cần những điểm đấu nối cố định cho khách thuê: hộp cấp nguồn sự kiện, điểm lấy và trả tín hiệu âm thanh, hình ảnh, đường truyền internet riêng cho sự kiện. Quyền điều khiển nên phân theo vai, để ê kíp khách thuê dùng được hệ thống mà không làm hỏng cấu hình gốc của khách sạn.

Cách âm giữa các phần của ballroom, và giữa ballroom với phòng nghỉ phía trên, cũng thuộc vòng này. Một đêm tiệc có ban nhạc sống không nên trở thành lý do để khách ở tầng trên trả phòng sớm.

Vòng hậu trường: an toàn của khách và sức chịu của đội vận hành

Vòng này khách không nhìn thấy. Câu hỏi ở đây là khi có chuyện, mọi khách, kể cả người đang ngủ hay không nói tiếng Việt, có nhận được đúng lệnh hay không.

Khách lưu trú khác với người làm việc trong văn phòng. Họ không quen đường, và có thể là người cao tuổi, trẻ nhỏ hay người nghe kém. Một hệ thông báo và hướng dẫn sơ tán bằng giọng nói cho khách sạn nên phát được bản tin nhiều ngôn ngữ, phân vùng theo tầng và theo khu, tự cắt nhạc nền khi có thông báo khẩn, đủ đánh thức khách đang ngủ trong phòng, và nghe rõ ở hồ bơi, sân vườn, bãi biển. Mức âm và độ rõ lời nói là mục tiêu đặt trong hồ sơ thiết kế. Các tiêu chuẩn thường được dùng làm căn cứ cho thiết bị loại này là EN 54-16:2008 cho thiết bị điều khiển và hiển thị của hệ báo động bằng giọng nói, và EN 54-24:2008 cho loa. Cách hệ này liên kết với hệ báo cháy phải được thể hiện trong hồ sơ thiết kế phòng cháy chữa cháy của công trình.

Có một điểm hay bị bỏ sót. Khi cháy, cần đưa khách ra ngoài. Khi có bão lớn hay một mối đe doạ an ninh, cần giữ khách ở nơi an toàn. Hai kịch bản đi theo hai hướng ngược nhau nên cần hai bản tin và hai thao tác kích hoạt riêng, và kịch bản giữ khách tại chỗ không được làm khoá lối thoát nạn. Kịch bản cho từng trường hợp do chủ đầu tư, đơn vị tư vấn thiết kế, bộ phận an ninh và đơn vị vận hành thống nhất ngay ở giai đoạn thiết kế.

Với khách nghe kém, có thể thêm hai lớp tùy chọn: vòng nghe từ trường ở quầy lễ tân và ballroom, và thiết bị báo động bằng đèn chớp hoặc rung trong một số phòng dành cho khách khiếm thính; thiết bị báo động này thuộc hệ báo cháy và được thể hiện trong hồ sơ thiết kế phòng cháy chữa cháy. Cả hai nên được quyết cùng danh mục phòng tiếp cận được ngay từ thiết kế.

Phía sau quầy, hậu trường khách sạn là nơi nhiều hệ thống của nhiều nhà cung cấp gặp nhau: phần mềm quản lý khách sạn (PMS), khoá từ, wifi cho khách, camera, truyền hình trong phòng, âm thanh, hình ảnh. Các hệ này thường thuộc những gói thầu riêng, nên điều cần chốt sớm là ranh giới giữa chúng. Nguồn thời gian chung cho mọi nhật ký đã được nói trong bài Nền móng. Riêng camera và các hệ ghi dữ liệu của khách, hồ sơ thiết kế nên nói rõ những nơi không đặt camera, ai được xem bản ghi và lưu trong bao lâu. Việc thu thập và xử lý dữ liệu cá nhân của khách thực hiện theo quy định hiện hành về bảo vệ dữ liệu cá nhân; quy trình cụ thể do chủ đầu tư và đơn vị vận hành xây dựng.

Cuối cùng là con người. Đội kỹ thuật khách sạn thường mỏng và thay đổi nhanh, ca đêm có khi chỉ một người. Hệ thống cần đủ đơn giản để nhân viên mới dùng được sau một buổi hướng dẫn, và cần được kiểm tra định kỳ theo lịch để phát hiện thiết bị xuống cấp trước khi khách nhận ra. Đây là lý do Bá Hùng đặt dịch vụ chăm sóc chủ động như một phần của giải pháp.

Một khách sạn vận hành hai mươi, ba mươi năm, và chi phí của hệ thống công nghệ không dừng ở ngày mua. Điện năng, bản quyền phần mềm, bảo trì, thay thế, cả những đêm phòng phải khoá lại để sửa đều cộng dồn qua từng năm. Một lựa chọn rẻ hơn lúc mua sắm nhưng khó bảo trì, khó mở rộng có thể đắt hơn khi tính cả vòng đời.

Nền móng chung cho cả ba vòng

Cả ba vòng cùng đứng trên một lớp nền: điện sạch và tiếp địa cho thiết bị điện tử, ranh giới mạng, phòng kỹ thuật, điểm treo và ống chờ, thiết bị chịu được môi trường ven biển, danh mục bàn giao số. Lớp này được trình bày trong bài Nền móng cho hệ thống công nghệ khách sạn và khu nghỉ dưỡng.

Những điều nên chốt trong hồ sơ thiết kế cơ sở

  • Sơ đồ phân vùng âm thanh nền theo hành trình của khách, kèm lịch phát và giới hạn âm lượng cho từng vùng.
  • Mục tiêu tiếng ồn nền và cách âm cho phòng nghỉ, chốt cùng vị trí thiết bị kỹ thuật và giải pháp chống rung.
  • Cách chia phòng cho ballroom và các phòng chức năng, quyết trước sơ đồ thiết bị; mục tiêu độ rõ lời nói và yêu cầu âm học của phòng.
  • Điểm đấu nối cố định cho đơn vị tổ chức sự kiện: hộp cấp nguồn, điểm lấy và trả tín hiệu, đường truyền riêng, phân quyền điều khiển.
  • Phân vùng thông báo khẩn cấp và danh sách ngôn ngữ bản tin; kịch bản sơ tán và cách liên kết với hệ báo cháy thể hiện trong hồ sơ thiết kế phòng cháy chữa cháy; kịch bản giữ khách tại chỗ lập riêng, không làm khoá lối thoát nạn.
  • Danh mục phòng tiếp cận được và các lớp hỗ trợ khách nghe kém nếu chủ đầu tư chọn đưa vào.
  • Ranh giới giữa các gói thầu công nghệ.
  • Kế hoạch vận hành và bảo trì sau khai trương, tính vào tổng chi phí vòng đời khi so sánh phương án.

Các yêu cầu trong bài nêu ở mức thiết kế. Quy chuẩn và quy định pháp luật áp dụng cho từng công trình do đơn vị tư vấn thiết kế và cơ quan có thẩm quyền xác định.

Nếu công trình của anh chị còn ở bản vẽ, Bá Hùng có thể cùng đơn vị thiết kế rà phần âm thanh, hình ảnh, thông báo khẩn và hạ tầng đi kèm trong ba vòng trên, theo định vị và cách vận hành của khách sạn. Cách chúng tôi làm việc ở giai đoạn này được trình bày tại trang tư duy kiến trúc giải pháp.