Phòng hỏi cung và ghi lời khai

Phòng hỏi cung và ghi lời khai: căn phòng nhỏ nhất, bản ghi nặng nhất

Viết cho chỉ huy đơn vị, ban quản lý dự án và đơn vị tư vấn thiết kế đang lập hồ sơ cho phòng hỏi cung, phòng lấy lời khai, phòng làm việc nghiệp vụ tại trụ sở cơ quan điều tra và cơ sở giam giữ.

Trong một trụ sở công an, phòng hỏi cung thường là một trong những phòng nhỏ nhất. Nó cũng là nơi sinh ra loại tài liệu có sức nặng nhất: bản ghi âm ghi hình của một buổi làm việc mà sau này có thể được đưa ra trước cơ quan tiến hành tố tụng, được nghe lại từng câu, xem lại từng phút, và bị bên kia đặt câu hỏi về từng giây bị thiếu.

Pháp luật tố tụng hình sự hiện hành yêu cầu việc hỏi cung tại cơ sở giam giữ hoặc tại trụ sở cơ quan điều tra phải được ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh. Yêu cầu đó đặt ra một chuẩn mực mà nhiều phòng hiện có chưa đạt: có bản ghi là chưa đủ, bản ghi phải nghe rõ, nhìn đủ, liền mạch, và chứng minh được là chưa bị can thiệp. Một bản ghi không nghe được câu trả lời quan trọng nhất vì tiếng điều hòa, hoặc có một khoảng trống ba phút không giải thích được, làm suy yếu chính quá trình mà nó được lập ra để bảo vệ. Bản ghi tốt bảo vệ cả hai phía: người được hỏi, và cán bộ làm nhiệm vụ.

Loại phòng này có năm bài toán. Mỗi bài toán dưới đây gồm thách thức thường gặp, cách chúng tôi giải, và kết quả đo được khi nghiệm thu.

1. Nghe rõ từng chữ trong bản ghi

Thách thức. Phòng nhỏ, bốn mặt tường cứng song song, trần thạch cao phẳng, cục lạnh điều hòa treo ngay trên đầu bàn. Người được hỏi nói nhỏ, cúi đầu, quay mặt đi. Một micro đặt trên bàn thu rõ tiếng giấy sột soạt và tiếng gõ bút hơn là tiếng nói. Nghe lại thì câu hỏi rõ, câu trả lời không rõ.

Cách giải. Âm học của phòng được xử lý trước khi chọn micro. Tường và trần dùng vật liệu tiêu âm loại chịu va đập, bề mặt dễ vệ sinh, không có mép để cạy hay bóc. Điều hòa chọn loại độ ồn thấp, đặt cục lạnh xa vùng bàn, hoặc dùng miệng gió có hộp tiêu âm. Micro đặt ở trần hoặc âm trong mặt bàn, loại không tháo được bằng tay, tối thiểu hai điểm thu để người ngồi ở tư thế nào cũng được thu ở cự ly hợp lý. Tín hiệu từ các micro được ghi thành nhiều kênh riêng, nên khi nghe lại có thể tách được tiếng của từng người.

Kết quả đo khi nghiệm thu.

  • Độ ồn nền trong phòng khi điều hòa chạy ở chế độ vận hành, đo và ghi lại so với mục tiêu nêu trong hồ sơ.
  • Chỉ số truyền đạt lời nói STI đo theo IEC 60268-16 trên chính bản ghi, tại các vị trí ngồi của người được hỏi, ở tư thế ngồi thẳng và tư thế cúi đầu.
  • Nghe lại bản ghi thử với người nói ở mức giọng nhỏ, xác nhận chép lại được từng câu mà không phải đoán.

Xem thêm: âm học và kiểm soát tiếng ồn, vật liệu và giải pháp âm học cho công trình, giải pháp âm thanh chuyên nghiệp.

2. Hình ảnh đủ, không có góc chết

Thách thức. Một camera đặt ở góc trần quay toàn cảnh. Thấy được có hai người ngồi đối diện, nhưng không thấy rõ nét mặt, không thấy tay để trên bàn, không thấy ai bước vào cửa. Khi có tranh luận về diễn biến buổi làm việc, hình ảnh không đủ để trả lời.

Cách giải. Tối thiểu hai góc quay. Một góc toàn cảnh thấy cả bàn, mọi người trong phòng và cửa ra vào. Một góc cận đủ để nhận rõ nét mặt người được hỏi. Mật độ điểm ảnh tại vị trí khuôn mặt tính theo mức nhận dạng trong tiêu chuẩn IEC 62676-4 về hướng dẫn ứng dụng hệ thống giám sát hình ảnh. Chiếu sáng đều, không tạo bóng gắt trên mặt, không chói vào mắt người ngồi. Camera đặt ngoài tầm với, có vỏ chống can thiệp. Mốc thời gian chuẩn hiển thị trên hình và lưu trong dữ liệu đi kèm bản ghi.

Kết quả đo khi nghiệm thu.

  • Thử lần lượt tại mọi vị trí có thể ngồi hoặc đứng trong phòng, xác nhận không có góc chết trên góc toàn cảnh.
  • Đo mật độ điểm ảnh tại vị trí khuôn mặt trên góc cận, so với mức nhận dạng của IEC 62676-4.
  • Kiểm tra hình ảnh ở chế độ chiếu sáng vận hành, không có vùng cháy sáng hay vùng tối trên mặt người được hỏi.

Xem thêm: an ninh vật lý tích hợp, chiếu sáng thông minh.

3. Bản ghi là chứng cứ chứ không phải một tệp dữ liệu

Thách thức. Buổi làm việc kéo dài hai tiếng, bản ghi nằm trong một đầu ghi camera dùng chung với hành lang và bãi xe. Đồng hồ đầu ghi lệch so với biên bản. Giữa buổi, điện chập chờn, đầu ghi khởi động lại, mất bốn phút. Khi cần sao bản ghi, người trực dùng một chiếc USB cá nhân. Không có gì trong chuỗi đó chứng minh được bản sao trùng với bản gốc.

Cách giải. Phòng hỏi cung có hệ ghi riêng, tách khỏi hệ camera an ninh chung. Việc bắt đầu và kết thúc ghi được điều khiển tại phòng theo quy trình của đơn vị, có đèn báo trạng thái đang ghi mà mọi người trong phòng đều thấy. Hệ ghi chạy trên nguồn lưu điện, ghi đồng thời lên hai nơi lưu độc lập, nên sự cố của một bộ ghi không làm mất đoạn nào. Mọi thiết bị lấy giờ từ nguồn thời gian chung của công trình. Khi phiên ghi kết thúc, hệ thống tạo mã kiểm tra toàn vẹn cho tệp, lưu bản gốc ở vùng lưu trữ chỉ ghi một lần, và mọi thao tác xem, sao chép, trích xuất về sau đều để lại nhật ký. Quy trình nhận diện, thu thập và bảo quản dữ liệu số có thể tham chiếu hướng dẫn của ISO/IEC 27037.

Kết quả đo khi nghiệm thu.

  • Ngắt điện lưới giữa một phiên ghi thử, xác nhận bản ghi liền mạch, không mất đoạn.
  • Ngắt một bộ ghi giữa phiên, xác nhận bộ ghi còn lại giữ đủ nội dung.
  • Tạo bản sao trích xuất, đối chiếu mã kiểm tra toàn vẹn với bản gốc.
  • Đối chiếu mốc thời gian trên bản ghi với đồng hồ chuẩn của công trình; kiểm tra nhật ký ghi lại đầy đủ thao tác thử.

Xem thêm: hạ tầng mạng AV, điều khiển và an ninh mạng, nguồn an toàn, chống sét, lọc nhiễu và lưu điện.

4. Khi bản ghi đã lỡ kém

Thách thức. Không phải bản ghi nào cũng sinh ra trong một phòng đạt chuẩn. Bản ghi tại hiện trường, bản ghi từ phòng cũ chưa cải tạo, bản ghi cuộc gọi, bản ghi có tiếng quạt, tiếng xe, tiếng mưa. Có những câu nằm trong đó mà tai người không tách ra được, và việc nghe đi nghe lại chỉ làm người nghe thêm chắc vào điều mình đoán.

Cách giải. Có một lớp công nghệ chuyên dùng trong ngành pháp y âm thanh và phát thanh truyền hình để phục hồi tiếng nói: tách lời nói khỏi tiếng ồn nền, giảm tiếng vang, làm rõ giọng nói nhỏ, mà không làm biến dạng giọng hay thêm vào âm thanh không có trong bản gốc. Lớp này đi kèm ba nguyên tắc. Bản gốc luôn giữ nguyên, việc xử lý chỉ thực hiện trên bản sao. Mọi bước xử lý đều được ghi lại, để người có thẩm quyền biết bản nghe được đã qua những thao tác gì. Và bản đã xử lý dùng để hỗ trợ việc nghe, còn giá trị chứng cứ vẫn nằm ở bản gốc cùng chuỗi bảo quản của nó.

Mô tả bằng chữ không thay được việc nghe. Chúng tôi trình diễn trực tiếp lớp xử lý này trên tệp thử do đơn vị cung cấp, trong buổi làm việc tại đơn vị.

Kết quả đo khi nghiệm thu.

  • Xử lý một tệp thử có nhiễu do đơn vị chọn, so sánh bản trước và sau với sự có mặt của cán bộ nghiệp vụ.
  • Kiểm tra bản gốc không thay đổi sau xử lý bằng mã kiểm tra toàn vẹn.
  • Kiểm tra nhật ký xử lý ghi đủ các bước đã thực hiện trên bản sao.

5. An toàn của cán bộ và luồng di chuyển

Thách thức. Phòng hỏi cung đặt cuối một hành lang mà công dân đến làm thủ tục cũng đi qua. Bàn ghế rời, cửa mở vào trong, không có cách gọi hỗ trợ ngoài việc đứng dậy ra cửa. Không có chỗ để cán bộ chỉ huy theo dõi buổi làm việc mà không bước vào phòng.

Cách giải. Vị trí phòng được chốt theo luồng di chuyển: người bị tạm giữ đi từ khu giam giữ tới phòng làm việc không qua khu tiếp dân, không gặp người ngoài. Nội thất cố định xuống sàn, không có vật sắc hay vật rời có thể dùng làm vũ khí. Cửa mở theo hướng an toàn cho cán bộ, có ô quan sát. Nút báo động cho cán bộ đặt ở vị trí dễ chạm mà người đối diện không thấy, nối thẳng về phòng trực ban kèm hình ảnh của phòng. Phòng quan sát liền kề cho phép chỉ huy theo dõi qua màn hình hoặc kính một chiều, nghe được buổi làm việc mà không làm gián đoạn. Các phòng có chức năng khác nhau trong cùng khu nghiệp vụ được cấu hình chế độ ghi khác nhau theo đúng quy định áp dụng cho từng loại phòng.

Kết quả đo khi nghiệm thu.

  • Bấm thử nút báo động, đo thời gian tới khi phòng trực ban nhận cảnh báo kèm hình ảnh của đúng phòng.
  • Kiểm tra từ phòng quan sát nhìn và nghe được buổi làm việc trong phòng chính.
  • Đi thử luồng từ khu giam giữ tới phòng làm việc, xác nhận không giao cắt với luồng công dân.

Xem thêm: an toàn sinh mạng: thông báo, sơ tán, cảnh báo, màn hình, phòng điều hành và trung tâm chỉ huy.

Nguồn điện, đồng bộ thời gian, phân vùng mạng và vận hành sau bàn giao cho khu nghiệp vụ được trình bày chi tiết trong bài nền móng cho hệ thống công nghệ của cơ quan nhà nước.

Ba điều nên chốt ngay trên bản vẽ

Một, vị trí khu nghiệp vụ trong luồng di chuyển. Phòng hỏi cung, phòng quan sát và lối đi từ khu giam giữ được vẽ thành một cụm, tách khỏi khu tiếp dân. Sửa luồng sau khi xây là gần như không thể.

Hai, âm học, cách âm và vật liệu của phòng. Vật liệu tiêu âm chịu va đập, vách bao chạy tới sàn bê tông, cửa kín, vị trí và loại điều hòa chốt cùng kiến trúc sư và kỹ sư cơ điện. Đây là thứ quyết định bản ghi nghe được hay không, trước mọi thiết bị.

Ba, ống chờ cho micro, camera, nút báo động và tuyến cáp về phòng ghi. Micro trần, camera hai góc, nút báo động âm tường và tuyến cáp riêng về phòng đặt hệ ghi phải có ống chờ trước khi hoàn thiện. Thiết bị đi nổi trong phòng loại này vừa xấu, vừa là điểm can thiệp.

Cách chúng tôi làm việc

Bá Hùng làm việc ở vai kiến trúc sư giải pháp: tư vấn phương án, cung cấp thiết bị, tích hợp kỹ thuật, bảo hành bảo trì dài hạn và ứng phó sự cố. Với công trình thuộc khối Quân đội, Công an và An ninh, chúng tôi không công bố thông tin công trình, không nêu tên đơn vị và không đưa hình ảnh hiện trường ra bên ngoài. Quy trình quản lý chất lượng của công ty duy trì chứng nhận ISO 9001 liên tục từ năm 2011.

Nếu công trình của quý đơn vị còn đang ở bản vẽ, hoặc đơn vị muốn nghe thử lớp phục hồi tiếng nói trên một tệp của mình, liên hệ kiến trúc sư giải pháp của Bá Hùng.

Các giải pháp khác cho khối này: Quân đội và An ninh. Nhóm công trình có yêu cầu gần về bản ghi chứng cứ: tòa án.